Hoạt động nghiệp vụ tại Cục Thuế Nam Định. Ảnh: Internet. Người phạm tội trốn thuế là người thực hành một trong các hành vi được quy định tại Luật Quản lý thuế, đồng thời thỏa mãn các dấu hiệu được quy định tại Bộ luật Hình sự như: Sử dụng hóa đơn, chứng từ bất hợp pháp để hạch toán hàng hóa, vật liệu đầu vào trong hoạt động nảy sinh bổn phận thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn; dùng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn; Khai sai với thực tại hàng hóa xuất khẩu, du nhập mà không khai bổ sung hồ nguyên sơ thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan trong thời gian 60 ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai thương chính; Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, du nhập; Cấu kết với người gửi hàng để du nhập hàng hóa nhằm mục đích trốn thuế... Nếu người nộp thuế có một trong các hành vi trốn thuế, ăn gian thuế kể trên thì phải nộp đủ số tiền thuế theo quy định và bị phạt từ 1 đến 3 lần số tiền thuế trốn. Ngoài ra, phạm tội trốn thuế trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng được hiểu là trường hợp tuy số tiền trốn thuế có giá trị từ 300 triệu đồng đến dưới 600 triệu đồng, nhưng người phạm tội song song thực hành một trong các hành vi liên hệ khác mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội nhân độc lập, như: Đưa hối lộ; chống người thi hành công vụ; gây thương tích cho người thi hành công vụ; hủy hoại tài sản của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế và các cơ quan quốc gia khác có trách nhiệm trong việc thực hành quản lý thuế. Trường hợp các hành vi này có đủ nhân tố cấu thành tù đọng khác thì ngoài tội trốn thuế, người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tù túng tương ứng. Thu Hằng |
Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2013
Trốn thuế dưới 600 triệu đồng vẫn bị coi là đặc biệt nghiêm trọng
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét